Hướng dẫn mẹ cách chăm sóc và điều trị trẻ bị sốt cao tại nhà để bé không bị co giật

Bạn có thể hoảng hốt khi thấy thân nhiệt của bé tăng lên, nhưng thực tế là điều đó hầu hết không quá nghiêm trọng. Bản thân tình trạng sốt không gây hại, và đôi khi nó lại là một dấu hiệu tốt, vì đó thường là cách cơ thể chống lại sự nhiễm trùng.Tuy nhiên, sốt cao có thể làm cho trẻ khó chịu và gặp một số vấn đề như cơ thể mất nước, đối với cơ địa một số trẻ sốt cao có thể gây co giật. Dưới đây là một số biện pháp điều trị sốt, và những dấu hiệu cần tới sự giúp đỡ của bác sĩ mà các bậc cha mẹ nên trang bị cho mình để giúp xử lý kịp thời khi bé bị sốt cao.

Sốt là gì?

Sốt là hiện tượng xảy ra khi “bộ chỉnh nhiệt” trong cơ thể làm tăng thân nhiệt lên cao hơn mức bình thường. Bộ chỉnh nhiệt này nằm trong vùng não có tên là hypothalamus, chuyên điều khiển thân nhiệt và những cảm giác như đói, khát… Hypothalamus biết rõ cơ thể cần ở nhiệt độ bao nhiêu (thường là khoảng 37 độ C) và sẽ gửi “lời nhắn” tới cơ thể duy trì nhiệt độ này.

Thân nhiệt của đa số mọi người thường không ổn định và dao động nhẹ trong một ngày: Hơi thấp vào buổi sáng và hơi cao vào chiều tối. Nhiệt độ cơ thể sẽ thay đổi khi trẻ chạy, nhảy, đùa nghịch hoặc và tập thể dục.

Trong những trường hợp đặc biệt, vùng não hypothalamus sẽ điều chỉnh lại và yêu cầu cơ thể tăng nhiệt độ lên cao. Mục địch là để phản ứng với sự nhiễm trùng, một căn bệnh hoặc lý do nào đó. Vậy, vì sao hypothalamus lại ra lệnh cho cơ thể thay đổi nhiệt độ? Các nhà khoa học tin rằng việc thay đổi này là cách cơ thể chống lại vi khuẩn gây nhiễm trùng và biến cơ thể thành nơi không mấy dễ chịu với chúng.

Cái gì gây sốt?

Nên nhớ rằng bản thân sốt không phải là một căn bệnh – nó chỉ là một triệu chứng của sự cố tiềm ẩn nào đó. Có một vài nguyên nhân gây sốt như sau:

  • Nhiễm trùng: (nhiểm khuẩn + nhiểm virus) Phần lớn sốt là do nhiễm trùng hoặc một căn bệnh nào đó gây ra. Sốt có nhiệm vụ giúp cho cơ thể chiến đấu với sự nhiễm trùng bằng cách kích thích cơ chế phòng vệ tự nhiên.
  • Mặc quá nhiều quần áo: Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, rất dễ bị sốt nếu được ủ quá kín hoặc ở trong một môi trường nóng. Nguyên nhân là do các bé chưa thể tự điều tiết thân nhiệt.
  • Tiêm chủng: Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thỉnh thoảng bị sốt nhẹ sau khi tiêm phòng.
  • Mọc răng cũng có thể làm tăng thân nhiệt, nhưng chỉ ở mức nhẹ. Thông thường nếu thân nhiệt của bé cao hơn 38,5 độ C thì đó không phải là do mọc răng.

Phải làm gì nếu cơn sốt là dấu hiệu của một bệnh gì đó nghiêm trọng?

Trước đây, các bác sĩ thường khuyên trị sốt chỉ dựa trên cơ sở thân nhiệt. Song hiện nay, người ta khuyến cáo cần kết hợp trị sốt và kiểm tra toàn bộ thể trạng của trẻ.

Những trẻ có thân nhiệt thấp hơn 38,5 độ C thường không cần dùng thuốc, trừ phi các em thấy khó chịu. Tuy nhiên, điều này có ngoại lệ, đó là nếu trẻ dưới 3 tháng tuổi có nhiệt độ 38.5 độ C hoặc cao hơn, nên gọi ngay bác sĩ hoặc đưa trẻ đến cơ sở y tế. Còn với trẻ lớn hơn, hãy xem xét hành vi và mức độ hoạt động của bé. Bằng cách này, bạn có thể quyết định liệu bé chỉ sốt nhẹ hay thực sự cần tới bác sĩ.

Tình trạng sốt có thể không nghiêm trọng nếu trẻ:

  • Vẫn thích chơi
  • Đang ăn uống tốt
  • Tỉnh táo và mỉm cười đáp lại
  • Sắc da bình thường
  • Trông tươi tỉnh hơn khi thân nhiệt hạ

Làm sao để biết bé sốt thế nào?

Một cái hôn lên chán bé hoặc đặt tay nhẹ lên da cũng đủ để biết được bé có sốt hay không. Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra thân nhiệt bằng xúc giác này phụ thuộc nhiêu vào cảm giác chủ quan và không thể cho biết chính xác nhiệt độ của bé.

Hãy sử dụng cặp nhiệt độ đáng tin cậy, bạn sẽ biết trẻ bị sốt hay không nếu thân nhiệt ở một trong các mức dưới đây:

  • Từ 38 độ C trở lên khi đo ở hậu môn
  • Từ 37,5 độ C trở lên nếu đo ở miệng
  • Từ 37,2 độ C nếu đo ở nách.

Tuy nhiên, sốt cao bao nhiêu độ cũng không thể cho biết vì sao bé ốm. Cảm lạnh hoặc nhiễm virus có thể là nguyên nhân (thường từ 38,9 đến 40 độ C), song đôi khi nó không thực sự nghiêm trọng. Ngược lại, có khi bé không sốt, hoặc thậm chí còn bị hạ thân nhiệt bất thường (đặc biệt là ở trẻ nhỏ), lại tiềm ẩn một sự nhiễm trùng nghiêm trọng.

Do cơn sốt có thể tăng hoặc giảm, nên trẻ đều trải qua cảm giác gai lạnh. Nguyên nhân là do cơ thể cố gắng sinh thêm nhiệt khi sốt cao. Sau đó, bé có thể vã mồ hơi khi cơ thể hạ sốt.

Đôi khi, trẻ bị sốt có thể thở gấp hơn bình thường và nhịp tim nhanh hơn. Hãy gọi ngay cho bác sĩ nếu bé có dấu hiệu khó thở, thở nhanh hơn nhiều so với bình thường hoặc tiếp tục thở gấp sau khi hạ sốt.

Với mức sốt vừa 38-38,5oC thì cơ thể trẻ có thể chịu đựng được nhưng với mức sốt cao từ 39-40oC trở lên trong thời gian dài có thể làm trẻ bị co giật, gây thiếu ôxy não. Khi bé bị sốt trên 39 độ C có thể khiến bé xuất hiện cơn co giật. Do vậy các bà mẹ cần nhanh chóng hạ sốt khi trẻ bị sốt cao. Cần cởi bỏ bớt quần áo cho trẻ, dùng thuốc hạ sốt, lau mát hạ sốt, cho bé bú hoặc uống nhiều nước theo dõi bé. Trong trường hợp này nếu mẹ chưa co kinh nghiệm chăm sóc, theo dõi bé thì nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để được khám và theo dõi.

Mẹo xử lý khi trẻ bị sốt

Trẻ em bị sốt là việc thường xảy ra trong quá trình phát triển của con người. Hiểu đúng về sốt sẽ giúp các bậc cha mẹ xử lý đúng tình trạng sốt của trẻ. Dưới đây là những hướng dẫn về cách nhận biết về các trường hợp sốt, cách xử lý khi trẻ bị sốt và cách sử dụng thuốc trong khi trẻ bị sốt.

Sốt theo quan niệm của các nhà khoa học

Thần kinh trung ương có “trung tâm điều nhiệt”. Khi có tác nhân lạ (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng…) gọi là kháng nguyên xâm nhập thì hệ thống miễn dịch của cơ thể thế lập tức hoạt động, sinh ra kháng thể để chống lại. Quá trình đó sẽ sinh ra nhiều năng lượng làm cho nhiệt độ cơ thể lên cao. Trung tâm điều nhiệt phải chỉ huy, buộc cơ thể đề kháng lại bằng phản ứng sốt làm cho nhiệt thoát ra bên ngoài.

Không như suy nghĩ của nhiều người, sốt có những điểm có lợi và không có lợi cho sức khỏe.

Những điểm có lợi của sốt:

Làm cho thân nhiệt hạ xuống. Nếu không sốt, nhiệt không thoát ra bên ngoài được, cơ thể tiếp tục bị hâm nóng, sẽ có hại.

Là dấu hiệu cho thấy trẻ em đang bị bệnh. Căn cứ vào nhiệt độ lúc sốt và cách sốt có thể hiểu một phần nguyên nhân.

Là dấu hiệu sinh tồn. Trẻ em còn sốt và sốt cao chứng tỏ là trẻ em còn sống, còn sức đề kháng. Kinh nghiệm lâu đời làm cho bà mẹ có phản ứng tự nhiên là lúc ngủ với con bị bệnh thường sờ xem con còn nóng (sống) hay lạnh ngắt (chết).

Những điểm có hại của sốt:

Sốt cao và/ hoặc kéo dài sẽ mệt nhọc, kém ăn, mất ngủ, suy nhược.

Sốt cao và/ hoặc kéo dài gây mất nước, muối. Mất nước. Muối sẽ làm cho máu bị cô đặc lại, huyết áp hạ xuống, máu khó đi đến các cơ phận, tim đập nhanh lên để bù, song đập nhanh quá sẽ bị loạn và suy. Sự mất muối và nước làm mất cân bằng điện giải, gây nhiều hệ lụy khác ở tế bào, ở các tổ chức. Sốt trong bệnh sốt xuất huyết là điển hình cho tác hại kiểu này.

Sốt cao sẽ gây cơn co giật. Co giật nặng sẽ để lại di chứng não có khi là di chứng rất năng nề.

Cách giải quyết của cha mẹ khi trẻ em bị sốt:

Cần hiểu rõ vì sao trẻ em bị sốt, vì sao trẻ mãi không hết sốt trước khi có quyết định sử dụng thuốc sốt. Khi vi khuẩn, virút, ký sinh trùng… chưa bị loại ra khỏi cơ thể thì quá trình chống lại chúng vẫn tiếp tục, thân nhiệt vẫn còn tăng và trung tâm điều nhiệt vẫn hoạt động, nên không thể nào hết sốt. Sử dụng thuốc chữa nguyên nhân mới chính là điều trị tận gốc cơn sốt, còn thuốc hạ sốt chỉ là thuốc phụ trợ, có tác dụng ức chế một phần trung tâm điều nhiệt làm giảm sốt.

Cần dùng thuốc hạ sớm nhằm giảm tác hại do sốt cao gây ra song không nên muốn hết sốt nhanh mà một ngày dùng nhiều loại và liều cao thuốc hạ sốt. Dùng thuốc hạ sốt mạnh liều cao, trẻ có thể sẽ bị ngộ độc.

Những trường hợp sốt của trẻ thông thường và cách giải quyết

Trẻ có thể bị sốt rất nhẹ, hâm hấp nóng (dưới 38 độ C):

Thường hay xảy ra vào mùa đông xuân.

Có thể nghi ngờ trẻ bị cảm nhiệt hay cảm cúm thông thường.

Nếu trẻ khỏe mạnh, sức đề kháng tốt, trong khoảng 2 – 3 ngày cơ thể sẽ tự điều chỉnh và vượt qua, thường chỉ cần chườm mát và sữ dụng các bài hạ sốt dân gian thông thường không nhất thiết phải dùng thuốc hạ sốt.

Trẻ bị sốt virus

Theo PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng trưởng khoa nhi bv Bạch Mai, trẻ bị sốt virus thường sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, đi kèm một số dấu hiệu khác như:

- Đau cơ bắp: Khi sốt virus, một số trẻ bị đau nhức khắp mình mẩy, cơ bắp; ở trẻ nhỏ thì hay quấy khóc, đau đầu; tuy nhiên, một số trường hợp bé bị đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, chơi nghịch được.

- Phát ban: Ở một số bé thường bị nổi ban sau 2 - 3 ngày bị sốt (khi xuất hiện ban thì bé đỡ sốt hơn).

- Mắt nhìn mờ: Trẻ bị chảy nước mắt, kết mạc mắt có thể đỏ, có dử mắt,... khiến khi nhìn mọi vật bị mờ đi.

- Nôn: Trẻ thường nôn nhiều lần, nhất là sau bữa ăn.

Ngoài ra, một số triệu chứng thường gặp khi trẻ bị sốt virus là ho, chảy nước mũi, hắt hơi, đi ngoài,... Một số trẻ nhỏ bị sốt virus còn lên cơn co giật liên hồi kèm tình trạng khó thở. Đặc biệt, một số phụ huynh cho rằng sốt virus là phải sốt rất cao, tuy nhiên, vẫn có những trường hợp trẻ sốt virus nhưng chỉ có biểu hiện sốt nhẹ. Do đó, bố mẹ không nên chủ quan mà phải theo dõi trẻ sát sao.

Cũng theo PGS. TS Nguyễn Tiến Dũng, nếu không xảy ra những biến chứng nguy hiểm trên thì phần lớn bệnh sẽ tự khỏi sau 5-7 ngày. Phụ huynh chỉ cần chăm sóc trẻ thông thường:
hạ sốt khi trẻ sốt cao, nếu trẻ bị ho thì cho uống thuốc ho, uống nhiều nước và nhất là cần cho trẻ nghỉ ngơi. Cho trẻ bú nhiều và ăn những thức ăn dễ tiêu hóa như nước cháo loãng, nước cam, quýt... Bổ sung các loại vitamin, tăng đề kháng cho trẻ hợp lý giúp cơ thể trẻ kháng lại các loại virus, vi khuẩn tránh bội nhiểm.


Trẻ có thể lúc đầu sốt nhẹ nhưng ngay sau đó sốt cao:

Có thể nghi trẻ bị nhiễm một loại vi khuẩn nào đó.

Cần dùng thuốc hạ sốt đề phòng trẻ có thể sốt cao hơn rồi co giật.

Thầy thuốc sẽ dựa vào lâm sàng và xét nghiệm, xác định nhiễm khuẩn gì, cho dùng kháng sinh thích hợp.

Trẻ có thể bị sốt rất cao (trên 38,5 – 390C) rất đột ngột kèm theo đau họng:

Trường hợp này nghi ngờ có thể bị nhiễm liên cầu khuẩn tán huyết A (S. hemoliticque group A).

Phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế, nếu đúng thì phải dùng kháng sinh đặc hiệu (tiêm penicilin, liều cao).

Theo phác đồ điều trị, từ khi nhiễm liên cầu khuẩn tán huyết đến khi dùng kháng sinh điều trị ở phải trong vòng 10 ngày.

Trẻ chỉ hâm hấp nóng về buổi chiều, kém ăn, suy yếu, dùng thuốc sốt không đáp ứng, không dứt:

Nên đưa trẻ đi khám xem có bị nhiễm lao không

Trẻ ho là chính, lúc đầu có sốt rất nhẹ không đáng kể song cứ ho dai dẳng hàng tháng:

Nên khám xem có phải bị ho gà không

Cách lau mát hạ sốt cho bé:

Chuẩn bị dụng cụ:

  • 5 khăn nhỏ để lau mát.
  • Thau nước ấm.
  • Nhiệt kế.

Thực hiện:

  • Đặt bé nằm ngửa trên giường.
  • Cởi bỏ quần áo trẻ.
  • Lấy nhiệt độ bé.
  • Rửa tay.

Chuẩn bị nước lau mát:

  • Cho ít nước lạnh vào trong thau.
  • Cho nước nóng vào, bằng ½ lượng nước lạnh.
  • Kiểm tra nhiệt độ nước bằng cách nhúng khuỷu tay vào thau nước, cảm giác ấm giống như nước tắm em bé.
  • Lau mát
  • Nhúng 5 khăn vào thau nước và vắt hơi ráo.
  • Đặt 2 khăn ở hõm nách, 2 khăn ở bẹn và 1 khăn lau khắp người.
  • Không đắp lên trán vì ít có tác dụng hạ sốt. Không đắp lên ngực vì tăng nguy cơ viêm phổi.
  • Thay khăn mỗi 2-3 phút.
  • Theo dõi nhiệt độ nước, cho thêm nước nóng nếu thấy nước không còn ấm.
  • Lấy nhiệt độ bé mỗi 15 phút, ngưng lau mát khi nhiệt độ dưới 38,5oC.
  • Lau khô và mặc quần áo mỏng cho trẻ.

Những điều không nên làm:

  • Không nên ủ ấm, mặc nhiều lớp quần áo cho trẻ khi trẻ đang sốt.
  • Không nên nặn chanh vào miệng và mắt trẻ.
  • Không nên dùng nước đá lạnh để lau máu hạ sốt cho trẻ.
  • Không giật tóc, vỗ vào người trẻ khi trẻ đang bị co giật, càng khiến trẻ bị kích thích, co giật nhiều hơn.

Trường hợp trẻ đã dùng thuốc hạ sốt, lau mát…mà trẻ vẫn không hạ sốt, bạn nên đưa trẻ đến cơ sở y tế

Cách xử trí sốt cao co giật tại nhà:

Giữ bình tĩnh kêu người trợ giúp, nhanh chóng tìm một vật cứng phẳng như cán muỗng quấn gạc đặt giữa hai hàm răng để tránh trẻ cắn vào lưỡi, cho trẻ nằm nghiêng sang một bên nếu thấy trẻ tăng tiết nhiều đàm, dùng thuốc hạ sốt qua đường hậu môn, cởi bỏ hết quần áo, lau mát cho trẻ bằng nước ấm ấm.

Những điều không nên làm khi trẻ sốt cao co giật:

  • Không nên đắp khăn ướt lên ngực vì trẻ rất dễ bị nhiễm lạnh, viêm phổi.
  • Không nên lau rượu hay đắp nước đá, không chà sát chanh lên người trẻ, không chích lễ, không cạo gió, không nặn chanh hoặc đổ bất kỳ nước gì vào miệng khi bé đang co giật.

Chọn thuốc hạ sốt nào cho bé?

Trước hết, trong các thuốc cần chuẩn bị trong tủ thuốc gia đình, thuốc hạ sốt là thuốc đầu bảng bạn cần phải dự trữ. Có hai lý do: sốt là một phản ứng cấp tính dễ dàng gây ra biến chứng với trẻ em và người già. 

Vì thế chúng ta cần khẩn trương hạ sốt ngay khi có nguy cơ sốt sẽ lên quá cao. Lý do nữa đó là thuốc hạ sốt cho trẻ nhỏ lại tương đối an toàn và dễ dùng, có thể tự dùng tại nhà mà ít khi gây ra những phản ứng đặc biệt nghiêm trọng. Nên bạn rất cần thiết chuẩn bị thuốc này sẵn sàng để dùng khi cần.

Thuốc hạ sốt cho trẻ nhỏ trên thị trường rất nhiều loại với các dạng khác nhau. Câu hỏi đặt ra là chúng ta sẽ lựa chọn loại nào. Trong các tình huống thông thường, khuyên bạn nên chọn paracetamol (còn gọi là acetaminophen). Trên thị trường còn một loại thuốc hạ sốt nữa là aspirin nhưng loại này khó dùng hơn và có một số đối tượng chống chỉ định. Vì thế, tốt nhất bạn nên chọn paracetamol.

Ưu điểm của loại này: tác dụng nhanh, an toàn, ít có biến chứng, hiệu lực hạ sốt mạnh và dễ sử dụng.

Nếu nhà bạn có trẻ em: bạn nên mua thêm hai loại khác, bao gồm: thuốc hạ sốt dạng siro có hương vị cam, chanh, dâu... và thuốc hạ sốt dạng viên đạn. Khi trẻ có thể uống được thì pha gói cho trẻ uống. Ở dạng này thuốc sẽ được hấp thu tốt hơn, đỡ phải dùng liều cao hơn. 

Doliprane loại siro 100ml của Pháp ( chính là dòng Paracetamon ) cho trẻ từ sơ sinh - 9 tuổi, là dạng siro rất dễ uống, mùi vị dâu, ngọt.  
 

Dạng hạ sốt viên đạn được bào chế với 3 hàm lượng: 80mg, 150mg và 300mg. Dạng 80mg dùng cho trẻ từ 4-6kg, tức là trẻ từ 1-5 tháng tuổi. Dạng 150mg dùng cho trẻ có cân nặng từ 7-12kg, tức là từ 6 tháng-1 tuổi. Dạng viên đạn 300mg dùng cho trẻ từ 13-24kg, tức là trẻ từ 2-9 tuổi.

Cách dùng

Cách dùng rất đơn giản nhưng phải tuân theo các quy tắc chặt chẽ như sau: Khi trong gia đình có người sốt từ 38.5 độ C thì bạn đã có thể cho dùng thuốc hạ sốt. Với trẻ em khi sốt trên 39 0C thì bạn nên dùng ngay vì tốc độ sốt của trẻ đến 39 độ C, 40 độ C là rất nhanh. Đây là hai ngưỡng nhiệt độ nguy hiểm.

Thông thường, cách dùng đơn giản với cả người lớn và trẻ em. Với người lớn thì nên dùng liều 2-3 lần/ngày. Mỗi lần 1 viên. Với trẻ em thì nên dùng 3-4 lần/ngày. Mỗi lần dùng một gói hoặc một viên đạn. Không được dùng liên tiếp các liều trong vòng dưới 4 tiếng đồng hồ, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt.

Một số trường hợp đặc biệt đó là thuốc không có tác dụng hạ sốt. Vậy làm thế nào để nhận ra điều này. Trước khi uống thuốc, bạn đo nhiệt độ một lần, đo bằng nhiệt kế thủy ngân, sau đó cho uống thuốc. Nếu sau 30 phút nhiệt độ không giảm có thể cho uống tiếp liều thứ 2. Nếu lần này sốt vẫn không hạ, bạn cần cho đi viện ngay. Không dùng một ngày quá 6 liều quy định liên tiếp.

Các trường hợp cần phải cho đi viện: sốt kéo dài quá 3 ngày, sốt mà dùng thuốc không hạ sốt, sốt quá cao, 40-41 độ C (vừa phải cho dùng thuốc vừa cho đi viện ngay) sốt, có dùng thuốc nhưng bị dị ứng.

Đặc biệt cần lưu ý không dùng thuốc nếu thấy dị ứng, không dùng thuốc với người bị bệnh viêm gan, trẻ em bị bệnh viêm gan vàng da do tắc mật. Các trường hợp này cấm dùng thuốc tại gia. Khi đó, có sốt, phải đưa đi bệnh viện và điều trị theo sự hướng dẫn của bác sĩ.     

BS. Yên Lâm Phúc/Nguồn SKĐS

 cho trẻ uống thuốc hạ sốt sau tiêm phòng?
Hỏi
Kính gửi bác sĩ! Cháu có thắc mắc xin hỏi ý kiến bác sĩ như sau. Bé nhà cháu được 2 tháng tuổi vừa đi tiêm phòng mũi 5 trong 1 mũi đầu tiên. Sau khi tiêm xong các cô y tá ở trạm xá phát cho thuốc hạ sốt, dặn là sau khi tiêm 1h thì cho bé uống, tuy nhiên theo cháu tìm hiểu thì được biết thuốc hạ sốt chỉ nên dùng khi em bé sốt trên 38,5 độ. Vậy cháu xin hỏi bác sĩ là thuốc hạ sốt nên uống khi nào ah? Nhiệt độ 38.5 độ là nhiệt độ cặp ở nách, ở miệng hay đo ở hậu môn? (vì khi cặp nhiệt độ thì ở 3 nơi này sẽ cho 3 kết quả khác nhau) Bé nhà cháu sinh ngày 06/11 đến ngày 01/12 cháu cho bé uống bổ sung Vitamin D3 ngày 1 giọt và khi nào có nắng đều cho em bé ra phơi nắng (phơi phần xương sống lưng) vậy mà bé vẫn bị rụng tóc hình vành khăn, cháu
đang định uống thuốc Canxi Corbie để bổ sung cho bé qua sữa mẹ, như vậy có được không ah? Và sau khi bé được 3 tháng cháu có thể cho bé uống bổ sung kèm cả Canxi Corbie và Vitamin D3 không ah? Khi cho uống Vitamin D3 thì cháu được biết có hiện tượng nếu uống Vitamin D3 kéo dài bé sẽ bị rối loạn tiêu hóa, nên cháu dự định một tháng cho em bé uống 3 tuần và nghỉ 1 tuần. Xin bác sĩ tư vấn giúp cháu các vấn đề ở trên. Cháu mong sớm nhận được trả lời từ bác sĩ.
Trả lời
Chào bạn,

Khi vi trùng, siêu vi… xâm nhập, cơ thể sẽ phản ứng lại và khi đó sốt là một trong những phản ứng có lợi của cơ thể nên chỉ uống thuốc hạ sốt khi sốt cao hoặc khi sốt làm ảnh hưởng đến em bé (co giật, khó chịu, quấy khóc…). Khi tiêm ngừa vắc-xin có thành phần ho gà toàn tế bào, sốt là một tác dụng phụ không mong muốn (vì vắc-xin ho gà toàn tế bào có những thành phần không tinh chế). Hơn nữa, hiện tượng sốt khi chích vắc-xin ho gà toàn tế bào dễ dẫn đến co giật, tím tái nên cần uống thuốc hạ sốt  khi thấy bé có nhiệt độ trên 38,50C.

Em bé bú sữa mẹ sẽ bị thiếu canxi nếu mẹ ăn uống thiếu canxi.

Ngoài ra, bạn cần uống mỗi ngày 1 lít sữa, ăn nhiều thực phẩm giàu canxi (tôm, cua, cá ăn luôn được cả xương…) để tăng canxi trong sữa mẹ. Việc uống bổ sung canxi của mẹ thường chỉ đủ cho nhu cầu cơ thể của mẹ vì không thể uống thuốc canxi liều cao sẽ dễ ảnh hưởng đến thận của mẹ. Viện Nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo trẻ em nên uống bổ sung vitamin D mỗi ngày 500 UI cho đến khi uống được mỗi ngày 1 lít sữa.

Thân mến.

BS. CK1. Nguyễn Thị Từ Anh
Khoa Sơ sinh - BV Từ Dũ

Trẻ bị sốt trong trường hợp nào cần dùng đến kháng sinh?

Trẻ bị chảy mũi, ho, tiêu chảy, viêm kết mạc, sốt... nguyên nhân do virus, không cần uống kháng sinh mà chỉ vệ sinh mũi, chữa triệu chứng ho thì dùng thuốc long đờm, giảm ho; hạ sốt khi cần. Là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam viết sách về kháng sinh, quan điểm của phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, nguyên trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, là “chỉ dùng kháng sinh khi thực sự cần thiết”. Ông được nhiều người biết đến với thế mạnh trong việc điều trị các bệnh lý đường hô hấp. Một điều dễ nhận thấy trong những đơn thuốc của vị bác sĩ này là rất ít có sự xuất hiện của thuốc kháng sinh.

“Kê thuốc kháng sinh cho trẻ thì dễ và ‘nhàn’ hơn cho bác sĩ rất nhiều nhưng với trẻ lại không tốt”, bác sĩ Dũng chia sẻ. Với thâm niên hơn 30 năm làm việc trong lĩnh vực nhi khoa, ông nhận thấy với bệnh viêm phổi, vũ khí cứu trẻ chính là kháng sinh. Tuy nhiên nó cũng dẫn tới hệ quả rất nghiêm trọng và vô cùng nguy hiểm khác là lạm dụng kháng sinh.

Có rất nhiều lý do dẫn đến việc kê đơn kháng sinh. Đầu tiên theo phó giáo sư Dũng là do bản thân người nhà bệnh nhân yêu cầu được dùng kháng sinh. Nhiều người coi kháng sinh là thuốc trị “bách bệnh”: đau họng, sốt, sổ mũi... đều nghĩ ngay đến việc dùng nó. Bên cạnh đó, người thầy thuốc do thời gian thăm khám quá ít dẫn đến chẩn đoán không chắc chắn hoặc không có đủ thời gian để giải thích cho gia đình vì sao không cần dùng kháng sinh.

Thực tế, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra kết luận nếu nguyên nhân gây bệnh là do virus thì việc dùng kháng sinh không có tác dụng giúp bệnh nhanh thoái lui hơn mà còn khiến trẻ mệt mỏi, chán ăn, thậm chí có thể dẫn đến tiêu chảy kéo dài, dị ứng...

Bệnh đường hô hấp rất hay gặp ở trẻ nhỏ, trong đó tác nhân gây bệnh chính là do virus, chiếm khoảng 2/3. Vì thế, việc của người thầy thuốc là phải chẩn đoán chính xác đó là bệnh gì, thuộc loại nhiễm trùng hay không nhiễm trùng. Nếu do nhiễm trùng thì do vi khuẩn hay siêu vi khuẩn. Ví dụ cùng sốt nhưng có thể do nhiễm virus, không cần dùng kháng sinh. Trường hợp viêm phổi, viêm đường tiết niệu… thì bắt buộc phải dùng kháng sinh.

"Trẻ bị ho cũng không nhất thiết phải uống kháng sinh, nhiều trường hợp chỉ cần dùng các thuốc điều trị triệu chứng bệnh lại nhanh khỏi. Ho thì dùng thuốc long đờm, giảm ho hoặc khi chảy mũi, tắc mũi thì dùng nước muối sinh lý, nước muối kháng viêm, thuốc co niêm mạc để hạn chế tiết mũi khi trẻ chảy mũi quá nhiều. Nếu sốt cao thì cho bé uống hạ sốt và nghỉ ngơi, uống nhiều nước...", phó giáo sư Dũng nhấn mạnh.

Theo ông, tác nhân gây viêm mũi họng ở trẻ có thể là virus, vi khuẩn. Các bác sĩ hoàn toàn có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm để phân biệt bệnh do virus hay do vi khuẩn (70-80% là do virus). Nếu là do virus, người bệnh có thể có các biểu hiện như viêm kết mạc, chảy mũi, ho, tiêu chảy, ban dạng virus... Còn nếu do vi khuẩn, các triệu chứng thường gặp là sốt trên 38,5 độ C, sưng đau hạch cổ, đau đầu, nốt xuất huyết ở vòm, đau bụng, khởi bệnh đột ngột (dưới 12 giờ), chất xuất tiết ở họng, amidan...

Với trẻ mắc viêm tai giữa, trong một số trường hợp có thể phải dùng kháng sinh như trẻ dưới 6 tháng; trẻ 6 tháng đến 2 tuổi nếu chẩn đoán chắc chắn hoặc không chắc chắn nhưng bệnh nặng; trẻ trên 2 tuổi có chẩn đoán chắc chắn và bệnh nặng. Các trường hợp khác chỉ điều trị triệu chứng và theo dõi sau 2 ngày nếu bệnh không đỡ mới dùng kháng sinh. Quan trọng là giữ vệ sinh mũi họng, có trường hợp hút mũi không cũng khỏi, nguyên tắc mũi sạch thì tai khô.

“Các bằng chứng so sánh lâm sàng cho thấy, 60% số bệnh nhân viêm xoang kéo dài trên 10 ngày mới là do nhiễm vi khuẩn. Viêm tai giữa tiết dịch ở trẻ phần nhiều không do nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn hô hấp trên không xác định vị trí, viêm phế quản cấp ở những cơ thể trước đây khỏe mạnh thì chủ yếu là do virus. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết điều này hoặc biết nhưng vẫn dùng kháng sinh, ngay cả với bác sĩ’, phó giáo sư Dũng nhấn mạnh.

Theo chuyên gia này, nhiều bà mẹ quá tin tưởng vào việc dùng thuốc kháng sinh mà không biết được những hiểm họa đằng sau đó, nó có rất nhiều tác dụng phụ khác nhau. Tác dụng phụ đầu tiên mà tất cả thầy thuốc cũng phải sợ là dị ứng. Dị ứng có thể gây sốc phản vệ, diễn ra vô cùng nhanh và có thể gây chết người ngay mà không thể tiên đoán trước được. Ngay cả với dị ứng chậm cũng vô cùng nguy hiểm, nó dẫn tới tình trạng nhiễm độc kháng sinh nặng và dẫn đến tử vong sau 1-2 tuần. Tác dụng phụ thứ hai là tiêu chảy - đây là tác dụng hay gặp nhất.

Tác dụng phụ thứ ba ít người biết đến là dẫn tới tình trạng nhờn thuốc, kháng thuốc. Tình trạng kháng kháng sinh dẫn tới việc kháng sinh không còn có tác dụng trong quá trình điều trị. Bản thân phó giáo sư Dũng đã gặp rất nhiều trường hợp trẻ bệnh trở nặng, thậm chí tử vong mà nguyên nhân là do lạm dụng kháng sinh.

“Có nhiều trẻ bị viêm phổi nặng, bác sĩ đã thay hết các loại kháng sinh tốt từ cũ đến mới nhưng vẫn không có tác dụng, bệnh nhân tử vong vì tất cả kháng sinh đều bị vi khuẩn nhờn thuốc kháng lại. Ngoài ra cũng có nhiều trẻ bị tác dụng phụ do lạm dụng kháng sinh là tiêu chảy, chữa đến 2-3 tháng mới cầm được không hề hiếm. Kháng sinh được ví như 'của để dành' để dùng trong những trường hợp thực sự nguy cấp vì thế không nên lạm dụng nó”, phó giáo sư Dũng chia sẽ.

(Theo phunuso.net )

 

 

 

 

Quay lại